Truyện ma có thật
Khi nào mà các đại dương vẫn còn những lợi gân nối liền các phần
khác nhau của Đế quốc Anh thì chúng ta vẫn sẽ không tránh khỏi
những chuyện hoang đường. Vì linh hồn người ta tự để cho bị khuấy
động bởi nước, cũng giống hệt như nước phải vâng theo mặt trăng và
khi những con đường lớn của một đế quốc bị bao quanh bởi nỗi hỉêm
nguy muôn thuở, cũng phong phú về những cảnh trí và âm thanh kỳ lạ,
người ta phải có một tinh thần khá thâm hậu để giữ được thản nhiên
trước những điều ác hại của chúng. Hiện nay nước Anh đang vươn ra
rất xa bên ngoài chính quốc, khi mà ba ngàn dặm hải phận của mỗi
mạn duyên hải làm thành cương giới mà nó đã đoạt được bởi cái búa,
cái khuôn dệt và cái cuốc nhọn hơn là bởi những nghệ thuật của
chiến tranh. Quả thật lịch sử đã đoán chắc với chúng ta rằng không
một ông vua nào, không một đạo quân nào có thể cản đường của một
người chỉ có hai đồng tiền trong két sắt nhưng biết rằng ở nơi nào
y sẽ có thể biến hai đồng tiền thành ba đồng, và để hết trí thông
minh vào việc đi tới nơi đã định. Và vì cương giới đã mở xa ra, trí
thông minh của Anh Quốc cũng được nới rộng và tràn lan ra một cách
đầy đủ trên khắp thế giới để cho tất cả mọi người thấy rằng những
con đường của hải đảo có tính cách châu lục, giống hệt như những
con đường của châu lục đều có tính cách hải đảo.
Nhưng để tới được chỗ đó, người ta đã phải trả một cái giá, và cái
giá này cứ tiếp tục tốn kém hơn. Cũng giống như con quái vật thời
xưa phải nhận được dưới dạng cống phẩm hàng năm một người trai trẻ,
với đế quốc của chúng ta cũng thế, hàng ngày chúng ta phải hy sinh
cái tinh hoa của thế hệ thanh niên của chúng ta. Guồng máy thì bao
la và dũng mãnh nhưng nhiên liệu duy nhất làm cho nó vận hành là
sinh mạng của dân Anh. Đó là lý do tại sao khi ở trong những giáo
đường cổ kính màu xám chúng ta nhìn thấy những danh tính xa lạ:
những danh tính mà cả những người xây các bức tường này cũng không
biết, vì chính ở Peshawar, ở Umbellah, ở Korti, ở Fort Pearson mà
những chàng trai trẻ chết, mà chỉ để lại phía sau họ truyền thuyết
và một tấm biển. Nếu bên trên mỗi cái xác người Anh có một đài kỷ
niệm được dựng lwn thì người ta sẽ không cần vạch ra cương giới, vì
một sợi dây thừng của những ngôi mộ sẽ chỉ rõ làn sóng của dân Anh
và Celtes đã vờ tới nơi nào.
Cả điều đó nữa, đồng thời với những khối nước nối liền chúng ta với
thế giới, đã đóng góp vào những chuyện hoang đường mà chúng ta thấm
nhuần. Khi mà bao nhiêu người đàn ông và đàn bà đã có ở phía bên
kia đại dương những người mà họ yêu quý và những người này đang
tiến lên dưới làn đạn của dân sơn cước hoặc trong những đầm lầy của
bệnh sốt rét rừng, thì lúc đó tâm hồn đi vào sự giao cảm với tâm
hồn, và những truyện ly kỳ nẩy sinh, những mộng mị, những sự linh
cảm, những ảo tưởng trong đó một bà mẹ trông thấy con trai bà đang
chết và bà ngất đi trong cơn tuyệt vọng, ngay cả trước khi cái tang
của anh ta được loan báo cho bà. Mới gần đây khoa học đã chiếu cố
tới vấn đề này và đã ban cho nó một cái nhãn hiệu, nhưng chúng ta
đã biêt gì hơn nếu không phải là việc một linh hồn bị hành hạ và
tới bước cũng đã có thể phóng qua mặt đất, vào một khoảng cách mươi
lăm ngàn cây số, cái hình ảnh của tình cảnh đau buồn của y tới tận
tâm trí của người thân cận nhất của y? Tôi không hề phủ nhận cái
quyền năng đó, nhưng tôi nghĩ rằng cần phải khôn ngoan trong những
vấn đề như vậy, vì ít nhất đã có một lần tôi biết rằng những điều
trong khuôn khổ các định luật tự nhiên có thể hoàn toàn nằm ngoài
những vấn đề này.
John Vansittart là hội viên thứ nhì của công ty Hudson et
Vansittal, công ty xuất khẩu cà phê ở Ceylan ( Tích Lan). Ông vốn
là người gốc Hà Lan, nhưng 100% Ăng-Lê trong lòng các phong độ. Đã
nhiều năm tôi làm đại diện cho ông ở Luân Đôn. Khi ông tới Anh quốc
để nghỉ ngơi ba tháng, ông nói với tôi để có những sự giới thiệu
cho phép ông làm quen với đời sống ở thị thành và ở thôn quê. Ông
đã rời khỏi các văn phòng của tôi với bảy bức thư trong túi áo.
Trong một vài tuân, những bức thư ngắn từ nhiều nơi khác nhau gửi
tới báo tin cho tôi biết là ông đã lấy được cảm tình của các bạn
tôi. Rồi tôi được tin là ông đã đính hôn vơi Emily Lawson, thuộc
ngành thứ của gia đình nhà Hereford Lawson, và gần như ngay sau đó
họ đã thành hôn: sự tán tỉnh của một du khách chỉ có thể chóng vánh
thôi, và cái ngay ông phải xuống tàu của công ty, một cái tàu buồn
một ngàn tấn: đó sẽ là chuyến đi chơi tuần trăng mật của
họ.
Thời đó là thời cực kỳ thuận lợi cho các nhà trồng cà phê ở Ceylan,
họ đã chưa từng biết cái mùa khủng khiếp mà chỉ trong vài tháng
thôi, nhưng đã làm lụi bại tất cả một cộgn đồng này nhờ ở sự dũng
cẩm và kiên trì, sẽ lại dành được một thắng lợi thứ hai: quả thực
những cánh đồng trà ở Tích Lan là một đại công trình của lòng dũng
cảm của dân Anh, giống hệt như con sư tử ở Waterloo. Nhưng trong
năm 1872 chưa có một đám mây nào đe doạ ở chân trời. Những hy vọng
của các nhà trồng tỉa thật tràn trề, Vansittart trở lại Luân Đôn
cùng với cô vợ trẻ đẹp của ông. Ông giới thiệu cô với tôi, chúng
tôi cùng ăn bữa tối với nhau, và cuối cùng thì ông đồng ý rằng, vì
các công việc củng đòi hỏi sự có mặt của tôi ở Tích Lan, tôi sẽ là
bạn đồng hành của họ trên tau Eastern Star, mà sự nhổ neo rời bến
đã được định trước vào ngay thứ hai sắp tới.
Tôi gặp lại ông vào buổi tối ngày chủ nhật. Ông đi vào trong nhà
tôi với một vẻ băn khoăng và bực bội. Khi tôi bắt tay ông, tôi nhận
thấy bàn tay ông nóng và khô.
- Ông Atkinson ạ, ông nói với tôi, tôi muốn ông bảo người nhà pha
cho tôi một chút nước chanh và nước lạnh. Nói theo nghĩa đen, tôi
đang chết khát đây, và tôi càng uống bao nhiêu thì tôi càng muốn
uống nữa.
Tôi bấm chuông và gọi lấy một bình nước và những cái
cốc.
- Ông đang bị sốt nóng lạnh, toi nói với ông, ông có vẻ đang khó ở
đó.
- Không, tôi không cảm thấy khoẻ mạnh lắm. Tôi bị đau phong thấp ở
lưng, và tôi ăn không ngon. Chính cài thành phố Luân Đôn chết tiệt
này làm tôi nghẹt thở. Tôi không quen hít thở cái không khí mà bốn
triệu buồng phổi cùng khuấy trộn lên cùng một lúc.
Ông vung vẩy hai bàn tay co quắp trước mặt ông: thật sự ông đã cho
người ta một ấn tượng của sự ngột ngạt.
- Một khi ông ở trên mặt biển, ông sẽ cảm thấy khoẻ khoắn
ngay.
- Đúng. Về điều đó thì tôi đồng ý với ông, Đó là việc cần thiết của
tôi. Tôi không cần tới một vị y sĩ khác. Nếu ngày mai tôi không
xuống tàu thì tôi sẽ phát ốm.....
Ông uống một hơi hết cốc nước chanh và ông xoa chỗ sống lưng bằng
hai bàn tay ông.
- Người ta nói rằng điều đó sẽ tốt cho tôi, ông nói tiếp trong khi
nhìn tôi với một con mắt rầu rỉ. Bây giờ tôi cần có sự giúp đỡ của
ông, ông Atkinson ạ, vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh tế
nhị.
- Hoàn cảnh thế nào?
- Đây này, bà mẹ vợ tôi bị ngã bệnh và bà ấy đã đánh điện gọi vợ
tôi tới bên giường bệnh của bà ấy. Tôi đã không thể đi theo vợ tôi
(ông biết rõ hơn ai hết là tôi đã bị cầm chân lại ở đây ) và vợ tôi
đành phải đi một mình. Bây giờ tôi lại vừa nhận được một bức điện
khác nói là ngày mai vợ tôi không thể tới được, nhưng nàng sẽ bắt
kịp con tàu ở Falmouth vào ngày thứ tư. Ông biết đó, chúng tôi sẽ
đạu lại ở đó: nhưng Atkinson ạ, tôi thấy thật là khó cho người ta
đòi hỏi một người phải tin vào sự huyền bí, và người ta sẽ nguyền
rủa, nếu y không thể tin vào điều đó, người ta sẽ nguyền rủa y, ông
hãy hiểu tôi đi!
Ông cúi xuống phía trước và khịt mũi làm như thể ông sắp khóc oà
lên.
Lúc đó tôi nghĩ tới việc người ta đã nói rất nhiều với tôi về những
tập tục ở hải đảo và về cách thức người ta uống rượu không pha ở
đó. Chắc hẳn rượu đã là nguyên nhân của những lời nói khó hiểu này
và của những bàn tay đang lên cơn sốt này! Tôi cảm thấy một sự lo
sợ mạnh mẽ khi trông thấy một người trai trẻ cao quý như vậy nằm
trong tay một con quỉ ghê tởm nhất trong số tất cả những con
gái.
- Ông phải đi nằm nghỉ! Tôi nói một cách nghiêm nghị.
Ông dụi mắt như thể ông tìm cách tự làm cho mình tỉnh lại, và ông
nhìn tôi với vẻ kinh ngạc.
- Tôi sẽ đi tới đó, ông nói với tôi một cách bình thản, lúc nãy tôi
cảm thấy hơi choáng váng, nhưng bây giờ tôi đã hồi phục rôi. Này,
tôi đang nói về về việc gì thế? À, dĩ nhiên là về vợ tôi rồi! Nàng
sẽ xuống tàu ở Falmouth. Tôi tin rằng sức khoẻ của tôi tuỳ thuộc
vào sự đi đường biển. Tôi cần có chút ít không khí trong lành trong
phổi tôi để tôi có thể hoàn toàn bình phục. Do đó tôi xin ông hãy
làm cho một việc với tư cách bạn bè, ông sẽ đí tới Falmuoth bằng xe
lửa, phòng trường hợp mà chúng tôi tới trẻ, và lúc đó ông sẽ trông
nom cho vợ tôi. Ông hãy tới khách sạn Royal; tôi sẽ đánh điện cho
nàng là ông trú chân ở đó. Em gái của nàng sẽ đi theo nàng tới tận
đó, như thế là mọi việc sẽ tốt đẹp.
- Rất vui lòng, tôi trả lời. Thật sự tôi không đòi hỏi gì hơn là
được đi tới Falmuoth bằng xe lửa, vì từ đây tới Colombo chúng ta sẽ
có nhiều thời gian thưởng thức biển cả. Tôi cũng nghĩ rằng ông có
một nhu vầu khẩn thiết về sự thay đổi không khí. Nếu ở địa vị ông
tôi sẽ đi nằm nghỉ ngay tức thì.
- Phải. Đêm hôm nay tôi sẽ ngủ trên tàu. Ông thấy đó một thứ sương
mù còn lởn vởn trước mắt ông.
-....Mấy đêm nay tôi không ngủ được nhiều, tôi đã gặp mâu thuẫn với
các nhà thần học....nghĩa là.....
Trong một sự cố gắng tuyệt vọng, ông kêu lên:
-....Bởi những sự hoài nghi có tính cách thần học...Xì! Tôi tự hỏi
tại sao đấng tối cao toàn năng lại tạo ra chúng ta, tại sao. Ngài
lại làm cho chúng ta ngu độn và gài những sự đau đớn lặt vặt vào
sống lưng của chúng ta. Có lẽ là tối nay tôi sẽ khá
hơn!
Ông đứng dậy và bám thấy cái lưng ghế của ông.
- Ông Vansittart! Xin ông hãy nghe tôi! Tôi nói với sự nghiêm
trọng. Tối nay tôi sẽ mời ông ở đây với tôi, ông không ở trong tình
trạng để đi ra ngoài được. Ông không đi ngay ngắn được. Ông đã uống
những thứ pha trộn của rượu...
- Rượu hả?
Ông nhìn thằng vào mắt tôi với một cái nhìn ngớ ngẩn.
- Thường nhật thì ông chịu đựng khá hơn khi uống rượu
mà.
- Ông Ankinson này, tôi thề với ông là đã từ hai ngày nay tôi không
uống một cốc rượu, tôi không biết là tôi đã uống cái gì. Tôi giả
thiết rằng ông nghĩ đó là hiệu ứng của rượu....
Ông nắm lấy bàn tay tôi và đặt nó lên trán ông.
- Lạy chúa tôi! Tôi kêu phải lên.
Ông có làn da mỏng như một dải nhung, dưới lớp da tôi cảm thấy như
một lớp chi chít những miêng chỉ lụn vụn.
- Ông chớ lo sợ, ông nói trong lúc cười mỉm. Tôi đã mắc bệnh lở mụn
nước rất tệ.
- Nhưng chuyện đó không dính líu gì tới bệnh lở mụn nước mà
!
- Không, đó là Luân Đôn. Đó là việc thở hít cái không khí tệ hại
đó. Ngày mai tôi sẽ mạnh khoẻ hơn nhiều. Trên tàu có một y sĩ, thế
là tôi sẽ được săn sóc chu đáo. Bây giờ tôi sẽ đi đây.
- Không, tôi nói với ông trong khi bắt ông phải ngồi xuống. Việc đó
sẽ là đưa sự đùa cợt đi quá xa đấy. Ông sẽ không nhúc nhích khỏi
nơi này trước khi gặp một vị y sĩ. Hãy ở yên chỗ ông đang
ngồi.
Tôi cầm lấy cái mũ và vội vã đi tới nhà một vị y sĩ ở ngay gần nhà
tôi. Tôi đưa ông ấy về nhà tôi ngay lập tức, nhưng phòng khách của
tôi trống không và Vansittart đã đi khỏi. Tôi bấm chuông, anh đầy
tớ báo với tôi rằng vị quý khách đã sai gọi một cỗ xe. Ông ấy bảo
người đánh xe đưa ông ấy đến bến tàu.
- Vị quý khách có vẻ ốm yếu không? Tôi hỏi.
- Ốm yếu à? Anh đầy tớ mỉm cười trả lời. Thưa ông không, ông ấy hát
ầm ĩ!
Sự bào tin này đã không làm tôi yên tâm chút nào, nhưng tôi nghĩ
rằng ông đi tới tàu Eastem Star, và có một y sĩ ở trên tàu, tôi
không thể làm được gì nữa cho ông. Tuy nhiên, khi tôi nhớ tới sự
khác nước của ông, nhớ tới hai bầnty nóng bỏng của ông, con mắt
nặng chĩu của ông, những lời nói vô ý nghĩa của ông, và cuối cùng
là cái trán lở lói bệnh cùi của ông, thì tôi đã mang theo lên
giường nằm của tôi một ký ức khó chịu về người khách của tôi và sự
tới thăm của ông ấy.
Sáng hôm sau, vào lúc mười một giờ, tôi đi tới bến tàu, nhưng tàu
Eastern Star đã bắt đầu chạy xuôi dòng sông và đã fần tới
Gravesend. Tôi đi với Gravesend bằng xe lửa, nhưng khi tôi tới nơi
thì chỉ còn trông thấy các cột buồm của nó ở một khoảng cách khá
xa, được mở đường phía trước bởi một lùm khói của một cái tàu kéo.
Thế là tôi không có tin tức nào của ông bạn tôi nữa trước khi tới
Falmuoth. Khi tôi trở về văn phòng của tôi, một bức điện tín đã đợi
tôi. Bà Vansittart đã tới Falmuoth; buổi tối ngày hôm sau, chúng
tôi gặp nhau ở khách sạn Royal, tại đó chúng tôi phải đợi tàu
Eastern Star. Mười ngày đã trôi qua, chúng tôi không nhận được tin
tức gì của con tàu.
Tôi sẽ không dễ dàng quên được mười ngày đó! Khi tàu Eastern Star
rời khoti sông Tamise, một cơn bão lớn phát khởi; nó thổi trong gần
cả một tuần lễ không ngừng nghĩ chút nào. Trên bờ biển miền nam,
chưa bao giờ người ta thấy một trận bảo dài như thế và cuồng nộ như
thế. Từ các cửa sổ khách sạn của chúng tôi, mặt biển hình như bị
bao trùm trong sương mù. Gió đè một cách quá nặng nề lên những đợt
sóng khiến cho mặt biển không thể vùng lên được: ngọn của từng đợt
sóng đã bị ngắt đi ngay tức thì. Những đám mây, gió, mặt biển đều
ùn ùn kéo về hướng tây. Ở giữa những thế lực hung hăng này, tôi chờ
đợi hết ngày này qua ngày khác với sự bầu bạn duy nhất của một
người đàn bà xanh xao và trầm lặng, mà cặp mắt phản ảnh sự kinh
hoàng; từ sáng tới chiều, nàng cứ đứng dán mắt vào cửa kính, đăm
đăm nhìn vào tấm xịt qua đó một con tàu có thể hiện ra. Nàng không
nói gì cả, nhưng nét mặt nàng là một khúc bi ca dài
dặc.
Sang tới ngày thứ năm tôi hỏi ý kiến một thủy thủ già. Ý tôi muốn
được ngồi một mình với ông ấy, nhưng nàng đã trông thấy tôi mở lời
với ông ấy, và nàng tới ngay tức thì, miệng hé mở và đôi mắt khẩn
cầu.
- Khởi hành từ Luân Đôn đã bảy ngày rồi à? Ông ấy nói. Vậy là năm
ngày trong giông bão. Này, biển Manche đã bị quét sạch bởi cơn gió
này! Có ba giả thuyết, trận bão có thể bắt nó phải tìm nơi trú ẩn
trong một hải cảng của Pháp. Điều này có thể là đúng.
- Không phải thế đâu! Ông ấy biết rằng chúng tôi đang ở đây. Lẽ ra
ông ấy phải đánh điện cho chúng tôi.
- À phải! Vậy thì có thể là nó đã chạy ra khơiđể tránh bão, nếu
đúng vậy thì lúc này chắc nó không ở xa Madere. Thưa bà, điều đó
hoàn toàn có thể xảy ra; bà có thể tin lời tôi nói !
- Và giả thuyết thứ ba?
- Tôi có nói với bà về một giả thuyết thứ ba à? Không, tôi nghĩ chỉ
có hai thôi. Tôi không tin là tôi đã nói tới một giả thuyết thứ ba.
Con tàu của bà đang ở một nơi nào đó ở giữa Đại Tây Dương, và chả
mấy chốc bà sẽ có tin tức của nó, vì thời tiết săp thay đổi. Thưa
bà, bà chớ lo lắng. Hãy đợi tới ngày mai, ngay từ buổi sáng bà sẽ
có một bầu trời xanh, đẹp.
Người thủy thủ già đã tiên đoán đúng: ngày hôm sau trời quang đãng
ngoại trừ một đám mây thấp bay ở phía tây, và đó là mảnh cuối cùng
của cơn cuồng nộ của trận bão tố. Dù trời đã quang đãng chúng tôi
cũng vẫn không có một tin tức nào về chiếc tàu thủy. Ba ngày bực
bội, lo âu nữa đã trôi qua, rồi một thủy thủ tới trình diện ở khách
sạn với một bức thư, tôi thốt lên một tiếng kêu vui mừng. Bức thư
tới từ vị thuyền trưởng của tàu Eastern Star. Khi đọc qua mấy dòng
đầu tiên, tôi đã muốn giấu nhẹm là thư đi, nhưng nàng đã giật lấy
nó từ tay tôi.
- Tôi đã đọc đoạn đầu, nàng nói với một giọng bình thản. Vậy thì
tôi có thể đọc chỗ tiếp theo.
Lá thư viết như sau:
” Kính thư ông, ông Vansittart đang ở trên tàu với bệnh đậu mùa, và
chúng tôi đã bị đẩy ra quá xa mũi đất của chúng ta nên chúng tôi
không biết phải làm sao: ông ấy đã phát cuồng và ông ấy không còn
khả năng để ra lệnh cho chúng tôi. Theo những sự tính toán phỏng
chừng của tôi thì chúng tôi chỉ còn cách Fanchal chừng bốn trăm hai
mươi cây số thôi. Tôi cũng giả thiết là nên đi tới đó, đưa ông
Vansittart vào bệnh viện, và đợi ông tới ở trong vịnh. Người ta nói
với tôi là trong vài ngày nữa một tàu buồm sẽ từ Falmuoth đi tới
Fanchal. Lá thư này sẽ được mang tới ông bằng sự môi giới của
thuyền nhỏ Marian ở Falmuoth, phải trả viên thuyền trưởng của nó
năm bảng. Kính chào ông. Jno Hines. ”
Nàng thật là tuyệt diệu, cô thiếu nữ vừa mới rời khỏi đại học này!
Cũng trầm tĩnh và cương nghị như một bậc nam nhi vậy. Nàng không
nói gì cả. Nàng mím chặt môi và đội mũ lên đầu.
- Cô đi ra ngoài à? Tôi hỏi.
- Vâng.
- Tôi có thể giúp gì cho cô không?
- Không, tôi đến nhà vị y sĩ.
- Sao?
- Phải. Để biết cách người ta điều trị bệnh đậu mùa.
Nàng loay hoay bận rộn súôt cả buổi tối. Sáng ngày hôm sau, chúng
tôi xuống tàu đi Madere, trên chiếc tàu Róe ò Shảon. Gió biển thổi
mười nút một giờ. Trong năm ngày chúng tôi chạy với tốc độ đều đặn,
và chúng tôi đã tới nơi không xa hải đảo. Sang ngày thứ sáu gió nổi
lên đột ngột, chúng tôi lâm vào tình trạng không nhúc nhích được
như đi trên dầu nhớt.
Lúc mười giờ tối, Emily Vansittart và tôi cùng đứng tựa vào bao lớn
bên phải của mạn cuối tàu; mặt trăng sáng rực đằng sau chúng tôi và
chiếu xuống chân chúng tôi bóng đen của con tàu và bóng hai cái đầu
của chúng tôi trên mặt nước lóng lánh như tấm gương. Từ chỗ bóng
tối một con đường của ánh trăng trải dài ta và vừa đi xa, vừa tan
rộng cho mãi tới chân trời hiu quạnh. Chúng tôi nói chuyện trong
khi cúi thấp đầu xuống, chúng tôi nói dông dài về sự yên tĩnh, về
cơ may của một cơn gió thuận lợi, về trạng thái của bầu trời, thì
bỗng nhiên có một tiếng bõm trên mặt nước, như thể một con cá hồi
vừa nhảy lên, và kìa, dưới ánh sáng trăng vằng vặc John Vansittart
nhô lên từ dưới mặt biển và ngẩng đầu lên về phía chúng
tôi.
Tôi chưa bao giờ thấy một vật gì rõ rệt hơn thế. Ánh trăng soi sáng
ông ấy rõ mồn một, ông ấy ở cách xa chúng tôi tầm độ ba tầm chèo.
Ông ấy có bộ mặt phồng lên lớn hơn là lần gặp mặt cuối cùng của
chúng tôi, da ông có nhiều chỗ lốm đốm những vẫy đen; mặt và miệng
ông mở lớn ra như thể một người vủa gặp một sự kinh ngạc lớn lao.
Từ hai vai của ông, một chất trắng đục chảy xuống thành những dãi
dài; một bàn tay của ông giơ lên gần tai, bàn tay kia thì gặp lại
để ngang ngực ông. Tôi trông thấy ông vọt lên khỏi mặt nước, và
trên mặt phẳng yên tĩnh của đại dương, những gợn sóng vẽ thành các
vòng tròn cho mãi tới hông tàu. Rồi ông lại chìm xuống, và tôi nghe
thấy một tiếng rập gẫy, một tiếng xé rách, như thể trong một đêm
băng giá một bó củi khô nổ lép bép trong đống lửa bập bùng. Khi tôi
nhìn lại tôi không còn trông thấy một chút dấu vết nào của ông đã
xuất hiện. Tôi không thể nói là tôi đã đứng ở đó bao lâu cúi khom
người trên các đầu ngón chân, một tay vịn chặt lấy cái lan can và
tay kia đỡ lấy người đàn bà bất tỉnh. Tôi đã là một kẻ trái ngược
hẳn với người hay nhạy cảm, lần này thì ít nhất tôi đạp chân lên
boong tàu để biết chắc tôi vẫn còn làm chủ được các cảm giác của
chính tôi, và đây không phải là sự sáng tạo điên khùng của một bộ
óc hỗn loạn. Emily Vansittart run lẩy bẩy, mở mắt ra, nàng đứng
dậy, hai tay tì vào cái lan can, nhìn ra mặt biển long lanh dưới
ánh trăng; mặt nàng đã già đi mười năm trong một đêm
hè.
- Ông có nhìn thấy ông ấy không? Nàng thì thào nói.
- Tôi đã nhìn thấy một vật gì.
- Đó là ông ấy! Đó là John! Ông ấy đã chết!....
Tôi ấp úng nói một vài lời có tính cách hoài nghi.
-...Chắc chắn là ông ấy vừa mới chết, nàng nói nhỏ. Ở bệnh viện
Madère. Tôi đã đọc qua những truyện vào loại đó. Các yd nghĩ của
ông ấy đều nghĩ tới tôi. Thị quan của ông ấy đã tới với tôi. Ôi
John, người yêu quý của tôi, người yêu quý đã mất đi mãi mãi của
tôi !
Nàng oà lên khóc nức nở: tôi đưa nàng về phòng của nàng và để nàng
ở đó với nỗi lo buồn của nàng. Một cơn gió nhỏ bắt đầu thổi trong
lúc ban đêm, và buổi tối hôm sau chúng tôi bỏ neo trong vịnh
Fanchal. Tàu Eastern Star đang đậu gần đó, lá cờ kiểm dịch được
treo cao trên cột buồm lớn và cờ hiệu của nó để rũ
xuống.
- Ông trông kìa! Bà Vansittart nói với tôi.
Cặp mắt nàng khô ráo, nàng biết rằng không một giọt lệ nào trả lại
được người chồng cho nàng. Trong lúc ban đêm chúng tôi nhận được
giấy phép cho lên tàu Eastern Star. Viên thuyền trưởng, ông Hines,
đợi chúng tôi trên boong, sẹ lo buồn và bối rối đã hằn lên trên bộ
mặt da đồng của ông, và ông tìm những từ để loan báo hung tin: nàng
ngắt lời ông.
- Tôi biết rằng chồng tôi đã chết, nàng nói, ông ấy đã chết tối hôm
qua, vào lúc mười giờ, ở bệnh viện Madère, có phải vậy
không?
Người thủy thủ nhìn nàng, sững sờ.
- Khồn, thưa bà. Ông ấy chết tám ngày rồi, ở trên biển và chúng tôi
đã buột lòng phải thủy táng ông ấy ở đó, vì chúng tôi thấy mình
đang ở một khu vực yên tĩnh và chúng tôi đã không biết khi nào thì
chúng tôi sẽ tới bờ.
Đó là những sự kiện chính yếu liên quan tới cái chết của John
Vansittart, cũng như về sự xuất hiện của ông ấy tại một nơi nào đó
vào khoảng độ 35 bắc vĩ - tuyến và độ 15 tây kính tuyến. Một hồn mà
hiện hình rõ rệt hơn thật ít khi xảy ra, do đó nó đã là đề tài của
nhiều cuộc tranh luận, của nhiều bài viết. Nó đã được xác nhận bởi
giới bác học và nó đã làm dầy thêm tập hồ sơ mới được mở ra gần đây
về sự thần giao cách cảm. Về phần tôi, tôi chủ trương là sự thần
giao cách cảm không có gì để nghi ngờ, nhưng tôi muốn rút trường
hợp này ra khỏi tập hồ sơ và tôi muốn nói rằng chúng tôi đã không
trông thấy sự xuất hiện của hồn ma John Vansittart, mà đúng là John
Vansittart bằng xương bằng thịt, vọt lên từ đáy sâu của Đại Tây
Dương dưới ánh trăng. Tôi luôn luôn tin rằng một sự ngẫu nhiên phi
thường (Một trong các sự ngẫu nhiên rất ít có khả năng xảy ra này,
tuy nhiên lại vẫn thường xảy ra ) đã làm cho chúng tôi đứng bất
động bên trên chính ngay cái chỗ mà người đàn ông đó đã bị chôn vùi
trên biển một tuần lễ trước. Về phần còn lại, vị y sĩ đã nói với
tôi là quả tạ bằng chì không được cột chặt, và bảy ngày đã mang tới
cho cái xác chết vài sự thay đổi nào đó có thể làm cho nó nổi lên
mặt nước. Quả tạ đã làm nó chìm sâu xuống đấy biển. Nếu quả tạ tách
rời ra xác chết có thể lại chồi lên mặt nước với sự đột ngột mà
chúng tôi đã chứng kiến. Đó là lời giải thích của vị y sĩ. Tới chỗ
muốn biết rõ ràng hơn nữa, tôi coi đó là phận sự của tôi, và nếu
nhắc lại với bạn về cái tiếng động khô khan của sự rập gẫy, của sự
xé rách, cũng như sự xao động trong nước biển. Những con cá mập
kiếm ăn trên mặt nước, và chúng đông lúc nhúc trong miền này.